Luyện tập thể thao thường xuyên, ăn nhiều rau xanh, uống trà xanh, hạn
chế bia rượu... là những cách đơn giản bạn nên thực hiện ngay hôm nay để
cải thiện sức khỏe và ngăn ngừa ung thư vú.
Thu Hiền (Nguồn Pinforgraphics.org)
Liệu pháp nội tiết và nguy cơ ung thư vú
Thuốc men và các phương pháp chẩn đoán có sử dụng phóng xạ có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư là một thực tế chúng ta cần biết và cố gắng loại trừ. Kết quả nghiên cứu dưới đây ở Mỹ đã khẳng định thêm một lần nữa: sử dụng liệu pháp nội tiết cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh có thể gây nguy hại cho sức Thuốc men và các phương pháp chẩn đoán có sử dụng phóng xạ có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư là một thực tế chúng ta cần biết và cố gắng loại trừ. Kết quả nghiên cứu dưới đây ở Mỹ đã khẳng định thêm một lần nữa: sử dụng liệu pháp nội tiết cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh có thể gây nguy hại cho sức khỏe và cả tính mạng của họ.
Đầu những năm 1990, liệu pháp nội tiết đã được khuyến khích sử dụng cho phụ nữ như một phương thức để làm họ trẻ, đẹp, sống lâu và phòng được mọi bệnh tật. Nhưng sau đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu cho thấy việc này rất nguy hiểm. Theo nghiên cứu được báo cáo tại hội thảo về ung thư vú gần đây nhất ở San Antonio, Mỹ: việc sử dụng hỗn hợp estrogen và progestin trong vòng 2 năm trở lên làm tăng khả năng mắc ung thư vú ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh lên 2 lần.
Bác sĩ Rowan Chlebowski và cộng sự đã theo dõi và nghiên cứu 16.608 phụ nữ ở tuổi ngoài 50, trong số họ, một nhóm được chỉ định dùng prempro (hỗn hợp của estrogen và progestin), nhóm còn lại sử dụng giả dược (placebo). Thử nghiệm này đã phải dừng lại chỉ sau 2 năm, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ung thư vú tăng 26% ở nhóm người dùng prempro. Các tác giả đã tiếp tục theo dõi 15.387 phụ nữ sau khi thôi sử dụng liệu pháp nội tiết trong vòng 5,5 năm và kết quả cho thấy sự gia tăng gấp đôi các trường hợp ung thư vú (100%) ở nhóm sử dụng prempro.
Mặc dù trước đó nhiều người đã lên tiếng cảnh báo về việc cần thận trọng khi sử dụng liệu pháp nội tiết, nhưng các thuốc này vẫn được khuyên sử dụng rộng rãi. Cho đến năm 2002, Viện nghiên cứu sức khỏe của Mỹ đã phải dừng trước thời gian thử nghiệm lâm sàng của họ với mục đích chứng minh tác dụng phòng bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, giảm trí nhớ... của liệu pháp nội tiết. Các nhà nghiên cứu hoảng hốt khi thấy thuốc nội tiết đã làm tăng chứ không giảm cho đại bộ phận các bệnh họ định phòng ngừa. Đặc biệt, liệu pháp nội tiết làm tăng mạnh tỷ lệ bệnh ung thư vú, chứng mất trí nhớ do thiểu năng tuần hoàn và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu sau đó 5 năm đã cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm từ 2002 - 2004, khi các bác sĩ không hăng hái kê đơn các thuốc có estrogen cho phụ nữ, số lượng các trường hợp ung thư vú ở phụ nữ Mỹ đã giảm gần 11%.
Các thói quen đều rất khó bỏ, mặc dù bằng chứng về tác hại của liệu pháp nội tiết đã ngày càng rõ ràng và nhiều hơn lợi ích của nó. Một số bác sĩ vẫn tiếp tục khuyên phụ nữ dùng nó để chữa chứng bốc hỏa ở tuổi tiền mãn kinh trong khi đó họ lại không tìm hiểu và ý thức được rằng chính luyện tập thể dục, ăn nhiều thức ăn có đậu nành, dùng một số thảo dược và các chất khoáng như magie, vitamin D3, uống đủ nước, giảm ăn mặn, giảm các chất kích thích trong khẩu phần ăn... đã được nghiên cứu và cho thấy tác dụng phòng và chữa trị hiệu quả chứng bốc hỏa và các rối loạn về tâm sinh lý cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh.
Với sự phát triển của công nghệ y dược, sẽ ngày càng có nhiều hơn các thuốc hoặc liệu pháp điều trị can thiệp vào từng chức năng sinh lý của tế bào, các chỉ số sinh hoá, các nội tiết tố và các cảm thụ quan của chúng. Các phương pháp này rất hấp dẫn người bệnh và bác sĩ bởi chúng có thể làm giảm một số triệu chứng và làm đẹp các chỉ số trên xét nghiệm trong một thời gian, nhưng về lâu dài chúng tiềm ẩn những tác hại và khả năng gây bệnh tật cho người sử dụng. Với nhiều người, khi các biến chứng xảy ra thì đã muộn để họ có thể thay đổi tình thế.
Các bác sĩ lâm sàng thường có thói quen tin tưởng tuyệt đối vào FDA (Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) và ngộ nhận rằng chỉ những dược phẩm hoặc phương pháp chữa bệnh được tổ chức này chấp nhận mới có tác dụng phòng và chữa bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không như vậy, có tới hơn 80% các thủ thuật, liệu pháp, thuốc men, thực phẩm chức năng, thuốc dược thảo được sử dụng trong các bệnh viện cũng như ở cộng đồng một cách hiệu quả và an toàn. Trong khi đó, nhiều thuốc men, chỉ định phẫu thuật... được chấp nhận và sử dụng rộng rãi đã không mang lại hiệu quả và trong một số trường hợp còn làm hại người bệnh. Bài học liên quan đến liệu pháp nội tiết cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh nhắc chúng ta một điều: không phải cứ người Mỹ và châu Âu làm gì chúng ta phải theo vậy, đặc biệt trong lĩnh vực y dược.
Cảnh giác với liệu pháp nội tiết.
Đầu những năm 1990, liệu pháp nội tiết đã được khuyến khích sử dụng cho phụ nữ như một phương thức để làm họ trẻ, đẹp, sống lâu và phòng được mọi bệnh tật. Nhưng sau đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu cho thấy việc này rất nguy hiểm. Theo nghiên cứu được báo cáo tại hội thảo về ung thư vú gần đây nhất ở San Antonio, Mỹ: việc sử dụng hỗn hợp estrogen và progestin trong vòng 2 năm trở lên làm tăng khả năng mắc ung thư vú ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh lên 2 lần.
Bác sĩ Rowan Chlebowski và cộng sự đã theo dõi và nghiên cứu 16.608 phụ nữ ở tuổi ngoài 50, trong số họ, một nhóm được chỉ định dùng prempro (hỗn hợp của estrogen và progestin), nhóm còn lại sử dụng giả dược (placebo). Thử nghiệm này đã phải dừng lại chỉ sau 2 năm, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ung thư vú tăng 26% ở nhóm người dùng prempro. Các tác giả đã tiếp tục theo dõi 15.387 phụ nữ sau khi thôi sử dụng liệu pháp nội tiết trong vòng 5,5 năm và kết quả cho thấy sự gia tăng gấp đôi các trường hợp ung thư vú (100%) ở nhóm sử dụng prempro.
Mặc dù trước đó nhiều người đã lên tiếng cảnh báo về việc cần thận trọng khi sử dụng liệu pháp nội tiết, nhưng các thuốc này vẫn được khuyên sử dụng rộng rãi. Cho đến năm 2002, Viện nghiên cứu sức khỏe của Mỹ đã phải dừng trước thời gian thử nghiệm lâm sàng của họ với mục đích chứng minh tác dụng phòng bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, giảm trí nhớ... của liệu pháp nội tiết. Các nhà nghiên cứu hoảng hốt khi thấy thuốc nội tiết đã làm tăng chứ không giảm cho đại bộ phận các bệnh họ định phòng ngừa. Đặc biệt, liệu pháp nội tiết làm tăng mạnh tỷ lệ bệnh ung thư vú, chứng mất trí nhớ do thiểu năng tuần hoàn và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu sau đó 5 năm đã cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm từ 2002 - 2004, khi các bác sĩ không hăng hái kê đơn các thuốc có estrogen cho phụ nữ, số lượng các trường hợp ung thư vú ở phụ nữ Mỹ đã giảm gần 11%.
Các thói quen đều rất khó bỏ, mặc dù bằng chứng về tác hại của liệu pháp nội tiết đã ngày càng rõ ràng và nhiều hơn lợi ích của nó. Một số bác sĩ vẫn tiếp tục khuyên phụ nữ dùng nó để chữa chứng bốc hỏa ở tuổi tiền mãn kinh trong khi đó họ lại không tìm hiểu và ý thức được rằng chính luyện tập thể dục, ăn nhiều thức ăn có đậu nành, dùng một số thảo dược và các chất khoáng như magie, vitamin D3, uống đủ nước, giảm ăn mặn, giảm các chất kích thích trong khẩu phần ăn... đã được nghiên cứu và cho thấy tác dụng phòng và chữa trị hiệu quả chứng bốc hỏa và các rối loạn về tâm sinh lý cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh.
Với sự phát triển của công nghệ y dược, sẽ ngày càng có nhiều hơn các thuốc hoặc liệu pháp điều trị can thiệp vào từng chức năng sinh lý của tế bào, các chỉ số sinh hoá, các nội tiết tố và các cảm thụ quan của chúng. Các phương pháp này rất hấp dẫn người bệnh và bác sĩ bởi chúng có thể làm giảm một số triệu chứng và làm đẹp các chỉ số trên xét nghiệm trong một thời gian, nhưng về lâu dài chúng tiềm ẩn những tác hại và khả năng gây bệnh tật cho người sử dụng. Với nhiều người, khi các biến chứng xảy ra thì đã muộn để họ có thể thay đổi tình thế.
Các bác sĩ lâm sàng thường có thói quen tin tưởng tuyệt đối vào FDA (Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) và ngộ nhận rằng chỉ những dược phẩm hoặc phương pháp chữa bệnh được tổ chức này chấp nhận mới có tác dụng phòng và chữa bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không như vậy, có tới hơn 80% các thủ thuật, liệu pháp, thuốc men, thực phẩm chức năng, thuốc dược thảo được sử dụng trong các bệnh viện cũng như ở cộng đồng một cách hiệu quả và an toàn. Trong khi đó, nhiều thuốc men, chỉ định phẫu thuật... được chấp nhận và sử dụng rộng rãi đã không mang lại hiệu quả và trong một số trường hợp còn làm hại người bệnh. Bài học liên quan đến liệu pháp nội tiết cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh nhắc chúng ta một điều: không phải cứ người Mỹ và châu Âu làm gì chúng ta phải theo vậy, đặc biệt trong lĩnh vực y dược.
BS.TS. Hoàng Xuân Ba
| Cảnh giác với liệu pháp nội tiết. |
Bác sĩ Rowan Chlebowski và cộng sự đã theo dõi và nghiên cứu 16.608 phụ nữ ở tuổi ngoài 50, trong số họ, một nhóm được chỉ định dùng prempro (hỗn hợp của estrogen và progestin), nhóm còn lại sử dụng giả dược (placebo). Thử nghiệm này đã phải dừng lại chỉ sau 2 năm, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ung thư vú tăng 26% ở nhóm người dùng prempro. Các tác giả đã tiếp tục theo dõi 15.387 phụ nữ sau khi thôi sử dụng liệu pháp nội tiết trong vòng 5,5 năm và kết quả cho thấy sự gia tăng gấp đôi các trường hợp ung thư vú (100%) ở nhóm sử dụng prempro.
Mặc dù trước đó nhiều người đã lên tiếng cảnh báo về việc cần thận trọng khi sử dụng liệu pháp nội tiết, nhưng các thuốc này vẫn được khuyên sử dụng rộng rãi. Cho đến năm 2002, Viện nghiên cứu sức khỏe của Mỹ đã phải dừng trước thời gian thử nghiệm lâm sàng của họ với mục đích chứng minh tác dụng phòng bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, giảm trí nhớ... của liệu pháp nội tiết. Các nhà nghiên cứu hoảng hốt khi thấy thuốc nội tiết đã làm tăng chứ không giảm cho đại bộ phận các bệnh họ định phòng ngừa. Đặc biệt, liệu pháp nội tiết làm tăng mạnh tỷ lệ bệnh ung thư vú, chứng mất trí nhớ do thiểu năng tuần hoàn và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu sau đó 5 năm đã cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm từ 2002 - 2004, khi các bác sĩ không hăng hái kê đơn các thuốc có estrogen cho phụ nữ, số lượng các trường hợp ung thư vú ở phụ nữ Mỹ đã giảm gần 11%.
Các thói quen đều rất khó bỏ, mặc dù bằng chứng về tác hại của liệu pháp nội tiết đã ngày càng rõ ràng và nhiều hơn lợi ích của nó. Một số bác sĩ vẫn tiếp tục khuyên phụ nữ dùng nó để chữa chứng bốc hỏa ở tuổi tiền mãn kinh trong khi đó họ lại không tìm hiểu và ý thức được rằng chính luyện tập thể dục, ăn nhiều thức ăn có đậu nành, dùng một số thảo dược và các chất khoáng như magie, vitamin D3, uống đủ nước, giảm ăn mặn, giảm các chất kích thích trong khẩu phần ăn... đã được nghiên cứu và cho thấy tác dụng phòng và chữa trị hiệu quả chứng bốc hỏa và các rối loạn về tâm sinh lý cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh.
Với sự phát triển của công nghệ y dược, sẽ ngày càng có nhiều hơn các thuốc hoặc liệu pháp điều trị can thiệp vào từng chức năng sinh lý của tế bào, các chỉ số sinh hoá, các nội tiết tố và các cảm thụ quan của chúng. Các phương pháp này rất hấp dẫn người bệnh và bác sĩ bởi chúng có thể làm giảm một số triệu chứng và làm đẹp các chỉ số trên xét nghiệm trong một thời gian, nhưng về lâu dài chúng tiềm ẩn những tác hại và khả năng gây bệnh tật cho người sử dụng. Với nhiều người, khi các biến chứng xảy ra thì đã muộn để họ có thể thay đổi tình thế.
Các bác sĩ lâm sàng thường có thói quen tin tưởng tuyệt đối vào FDA (Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) và ngộ nhận rằng chỉ những dược phẩm hoặc phương pháp chữa bệnh được tổ chức này chấp nhận mới có tác dụng phòng và chữa bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không như vậy, có tới hơn 80% các thủ thuật, liệu pháp, thuốc men, thực phẩm chức năng, thuốc dược thảo được sử dụng trong các bệnh viện cũng như ở cộng đồng một cách hiệu quả và an toàn. Trong khi đó, nhiều thuốc men, chỉ định phẫu thuật... được chấp nhận và sử dụng rộng rãi đã không mang lại hiệu quả và trong một số trường hợp còn làm hại người bệnh. Bài học liên quan đến liệu pháp nội tiết cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh nhắc chúng ta một điều: không phải cứ người Mỹ và châu Âu làm gì chúng ta phải theo vậy, đặc biệt trong lĩnh vực y dược.
Cảnh giác với liệu pháp nội tiết.
Đầu những năm 1990, liệu pháp nội tiết đã được khuyến khích sử dụng cho phụ nữ như một phương thức để làm họ trẻ, đẹp, sống lâu và phòng được mọi bệnh tật. Nhưng sau đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu cho thấy việc này rất nguy hiểm. Theo nghiên cứu được báo cáo tại hội thảo về ung thư vú gần đây nhất ở San Antonio, Mỹ: việc sử dụng hỗn hợp estrogen và progestin trong vòng 2 năm trở lên làm tăng khả năng mắc ung thư vú ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh lên 2 lần.
Bác sĩ Rowan Chlebowski và cộng sự đã theo dõi và nghiên cứu 16.608 phụ nữ ở tuổi ngoài 50, trong số họ, một nhóm được chỉ định dùng prempro (hỗn hợp của estrogen và progestin), nhóm còn lại sử dụng giả dược (placebo). Thử nghiệm này đã phải dừng lại chỉ sau 2 năm, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ung thư vú tăng 26% ở nhóm người dùng prempro. Các tác giả đã tiếp tục theo dõi 15.387 phụ nữ sau khi thôi sử dụng liệu pháp nội tiết trong vòng 5,5 năm và kết quả cho thấy sự gia tăng gấp đôi các trường hợp ung thư vú (100%) ở nhóm sử dụng prempro.
Mặc dù trước đó nhiều người đã lên tiếng cảnh báo về việc cần thận trọng khi sử dụng liệu pháp nội tiết, nhưng các thuốc này vẫn được khuyên sử dụng rộng rãi. Cho đến năm 2002, Viện nghiên cứu sức khỏe của Mỹ đã phải dừng trước thời gian thử nghiệm lâm sàng của họ với mục đích chứng minh tác dụng phòng bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, giảm trí nhớ... của liệu pháp nội tiết. Các nhà nghiên cứu hoảng hốt khi thấy thuốc nội tiết đã làm tăng chứ không giảm cho đại bộ phận các bệnh họ định phòng ngừa. Đặc biệt, liệu pháp nội tiết làm tăng mạnh tỷ lệ bệnh ung thư vú, chứng mất trí nhớ do thiểu năng tuần hoàn và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu sau đó 5 năm đã cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm từ 2002 - 2004, khi các bác sĩ không hăng hái kê đơn các thuốc có estrogen cho phụ nữ, số lượng các trường hợp ung thư vú ở phụ nữ Mỹ đã giảm gần 11%.
Các thói quen đều rất khó bỏ, mặc dù bằng chứng về tác hại của liệu pháp nội tiết đã ngày càng rõ ràng và nhiều hơn lợi ích của nó. Một số bác sĩ vẫn tiếp tục khuyên phụ nữ dùng nó để chữa chứng bốc hỏa ở tuổi tiền mãn kinh trong khi đó họ lại không tìm hiểu và ý thức được rằng chính luyện tập thể dục, ăn nhiều thức ăn có đậu nành, dùng một số thảo dược và các chất khoáng như magie, vitamin D3, uống đủ nước, giảm ăn mặn, giảm các chất kích thích trong khẩu phần ăn... đã được nghiên cứu và cho thấy tác dụng phòng và chữa trị hiệu quả chứng bốc hỏa và các rối loạn về tâm sinh lý cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh.
Với sự phát triển của công nghệ y dược, sẽ ngày càng có nhiều hơn các thuốc hoặc liệu pháp điều trị can thiệp vào từng chức năng sinh lý của tế bào, các chỉ số sinh hoá, các nội tiết tố và các cảm thụ quan của chúng. Các phương pháp này rất hấp dẫn người bệnh và bác sĩ bởi chúng có thể làm giảm một số triệu chứng và làm đẹp các chỉ số trên xét nghiệm trong một thời gian, nhưng về lâu dài chúng tiềm ẩn những tác hại và khả năng gây bệnh tật cho người sử dụng. Với nhiều người, khi các biến chứng xảy ra thì đã muộn để họ có thể thay đổi tình thế.
Các bác sĩ lâm sàng thường có thói quen tin tưởng tuyệt đối vào FDA (Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) và ngộ nhận rằng chỉ những dược phẩm hoặc phương pháp chữa bệnh được tổ chức này chấp nhận mới có tác dụng phòng và chữa bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không như vậy, có tới hơn 80% các thủ thuật, liệu pháp, thuốc men, thực phẩm chức năng, thuốc dược thảo được sử dụng trong các bệnh viện cũng như ở cộng đồng một cách hiệu quả và an toàn. Trong khi đó, nhiều thuốc men, chỉ định phẫu thuật... được chấp nhận và sử dụng rộng rãi đã không mang lại hiệu quả và trong một số trường hợp còn làm hại người bệnh. Bài học liên quan đến liệu pháp nội tiết cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh nhắc chúng ta một điều: không phải cứ người Mỹ và châu Âu làm gì chúng ta phải theo vậy, đặc biệt trong lĩnh vực y dược.
BS.TS. Hoàng Xuân Ba
Trà xanh chống lại bệnh ung thư vú
Posted on:
02:00
tags:
ung thư vú
Hội nghị quốc tế
thường niên lần thứ 11 về nghiên cứu và phòng chống ung thư vừa diễn ra tại
California, Mỹ. Các nhà khoa học đến từ Trung tâm Y tế của Đại học Columbia,
New York cho biết, chất chiết xuất từ trà xanh có thể giúp ngăn chặn nguy cơ
cũng như sự phát triển nhanh chóng của các tế bào ung thư vú.
Nghiên cứu của các nhà
khoa học này có sự tham gia của 40 phụ nữ bị bệnh ung thư vú, họ được sử dụng
trà xanh thường xuyên và không sử dụng một liệu pháp chữa trị bằng hormone nào.
Những người tham gia nghiên cứu được chia thành nhiều nhóm và được dùng 400,
600, 800mg Polyphenon E (chất chiết xuất từ trà xanh), hoặc được dùng giả dược
2 lần/ngày trong vòng 6 tháng.
Các nhà khoa học tiến hành lấy mẫu máu và nước tiểu của bệnh nhân sau 2, 4 và 6 tháng, từ đó phân tích các chỉ dấu sinh học của protein, các yếu tố tăng trưởng và các chỉ dấu sinh học của các chất béo, có thể cho biết các cơ chế tác động của chất chiết xuất trà xanh. Số bệnh nhân này sau khi tiếp nhận Polyphenon E đã cho thấy được sự ngăn chặn hiệu quả yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu và tế bào gan (cả 2 yếu tố này đều kích thích sự phát triển của các tế bào khối u và di căn tới các mô khỏe mạnh, hơn nữa tế bào gan còn tham gia vào việc tổng hợp và lưu trữ của các protein, chuyển đổi của carbohydrate, tổng hợp các muối mật, cholesterol và photpholipid).
Phó giáo sư y học và dịch tễ học, Tiến sĩ Crewe Katherine cho biết: “Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi diễn ra trong quy mô nhỏ, nhưng kết quả cho thấy chúng ta có thể tự tin sử dụng các chiết xuất từ trà xanh hoặc làm tiền đề cho các nghiên cứu khác về công dụng của trà xanh trong phòng chống bệnh ung thư trong tương lai”.
Các nhà khoa học tiến hành lấy mẫu máu và nước tiểu của bệnh nhân sau 2, 4 và 6 tháng, từ đó phân tích các chỉ dấu sinh học của protein, các yếu tố tăng trưởng và các chỉ dấu sinh học của các chất béo, có thể cho biết các cơ chế tác động của chất chiết xuất trà xanh. Số bệnh nhân này sau khi tiếp nhận Polyphenon E đã cho thấy được sự ngăn chặn hiệu quả yếu tố tăng trưởng nội mô mạch máu và tế bào gan (cả 2 yếu tố này đều kích thích sự phát triển của các tế bào khối u và di căn tới các mô khỏe mạnh, hơn nữa tế bào gan còn tham gia vào việc tổng hợp và lưu trữ của các protein, chuyển đổi của carbohydrate, tổng hợp các muối mật, cholesterol và photpholipid).
Phó giáo sư y học và dịch tễ học, Tiến sĩ Crewe Katherine cho biết: “Mặc dù nghiên cứu của chúng tôi diễn ra trong quy mô nhỏ, nhưng kết quả cho thấy chúng ta có thể tự tin sử dụng các chiết xuất từ trà xanh hoặc làm tiền đề cho các nghiên cứu khác về công dụng của trà xanh trong phòng chống bệnh ung thư trong tương lai”.
Theo Ria Novosti
Hiển thị các bài đăng có nhãn ung thư vú. Hiển thị tất cả bài đăng
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
