Vitamin C và E không giúp phòng bệnh ung thư

Posted on:
tags: ,
Có nhiều tin đồn rằng dùng hai loại vitamin C và E có thể giúp phòng ngừa bệnh tật đặc biệt bệnh ung thư. Ngay cả ở Mỹ, hơn nửa dân số dùng thêm vitamin mỗi ngày trong đó chủ yếu là vitamin C và E.

Trong một nghiên cứu lớn, các nhà nghiên cứu đã xem xét hiệu quả của vitamin C và E đối với bệnh ung thư tiền liệt tuyến và ung thư nói chung. Hơn 14.000 bác sĩ đã kê vitamin C và E như đơn thuốc cơ bản thường quy.

Sau thời gian nghiên cứu 8 năm, vitamin E không thể hiện tác dụng trong việc phòng bệnh ung thư nói chung hay ung thu tien liet tuyen. Các nhà nghiên cứu cũng phát hiện vitamin C cũng có kết cục tương tự.
Sở dĩ các nghiên cứu trước đây cho rằng vitamin C và E có liên quan đến giảm nguy cơ ung thư là vì các nghiên cứu này với cỡ mẫu chưa đủ lớn và thiếu yếu tố ngẫu nhiên.


Đ.C (Theo Journal of the American Medical Association, 12/2008)

Liệu pháp nội tiết và nguy cơ ung thư vú

Posted on:
tags: ,
Thuốc men và các phương pháp chẩn đoán có sử dụng phóng xạ có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư là một thực tế chúng ta cần biết và cố gắng loại trừ. Kết quả nghiên cứu dưới đây ở Mỹ đã khẳng định thêm một lần nữa: sử dụng liệu pháp nội tiết cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh có thể gây nguy hại cho sức Thuốc men và các phương pháp chẩn đoán có sử dụng phóng xạ có thể làm tăng tỷ lệ mắc bệnh ung thư là một thực tế chúng ta cần biết và cố gắng loại trừ. Kết quả nghiên cứu dưới đây ở Mỹ đã khẳng định thêm một lần nữa: sử dụng liệu pháp nội tiết cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh có thể gây nguy hại cho sức khỏe và cả tính mạng của họ.

Liệu pháp nội tiết và nguy cơ ung thư vú
 Cảnh giác với liệu pháp nội tiết.
Đầu những năm 1990, liệu pháp nội tiết đã được khuyến khích sử dụng cho phụ nữ như một phương thức để làm họ trẻ, đẹp, sống lâu và phòng được mọi bệnh tật. Nhưng sau đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu cho thấy việc này rất nguy hiểm. Theo nghiên cứu được báo cáo tại hội thảo về ung thư vú gần đây nhất ở San Antonio, Mỹ: việc sử dụng hỗn hợp estrogen và progestin trong vòng 2 năm trở lên làm tăng khả năng mắc ung thư vú ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh lên 2 lần.

Bác sĩ Rowan Chlebowski và cộng sự đã theo dõi và nghiên cứu 16.608 phụ nữ ở tuổi ngoài 50, trong số họ, một nhóm được chỉ định dùng prempro (hỗn hợp của estrogen và progestin), nhóm còn lại sử dụng giả dược (placebo). Thử nghiệm này đã phải dừng lại chỉ sau 2 năm, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ung thư vú tăng 26% ở nhóm người dùng prempro. Các tác giả đã tiếp tục theo dõi 15.387 phụ nữ sau khi thôi sử dụng liệu pháp nội tiết trong vòng 5,5 năm và kết quả cho thấy sự gia tăng gấp đôi các trường hợp ung thư vú (100%) ở nhóm sử dụng prempro.

Mặc dù trước đó nhiều người đã lên tiếng cảnh báo về việc cần thận trọng khi sử dụng liệu pháp nội tiết, nhưng các thuốc này vẫn được khuyên sử dụng rộng rãi. Cho đến năm 2002, Viện nghiên cứu sức khỏe của Mỹ đã phải dừng trước thời gian thử nghiệm lâm sàng của họ với mục đích chứng minh tác dụng phòng bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, giảm trí nhớ... của liệu pháp nội tiết. Các nhà nghiên cứu hoảng hốt khi thấy thuốc nội tiết đã làm tăng chứ không giảm cho đại bộ phận các bệnh họ định phòng ngừa. Đặc biệt, liệu pháp nội tiết làm tăng mạnh tỷ lệ bệnh ung thư vú, chứng mất trí nhớ do thiểu năng tuần hoàn và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu sau đó 5 năm đã cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm từ 2002 - 2004, khi các bác sĩ không hăng hái kê đơn các thuốc có estrogen cho phụ nữ, số lượng các trường hợp ung thư vú ở phụ nữ Mỹ đã giảm gần 11%.

Các thói quen đều rất khó bỏ, mặc dù bằng chứng về tác hại của liệu pháp nội tiết đã ngày càng rõ ràng và nhiều hơn lợi ích của nó. Một số bác sĩ vẫn tiếp tục khuyên phụ nữ dùng nó để chữa chứng bốc hỏa ở tuổi tiền mãn kinh trong khi đó họ lại không tìm hiểu và ý thức được rằng chính luyện tập thể dục, ăn nhiều thức ăn có đậu nành, dùng một số thảo dược và các chất khoáng như magie, vitamin D3, uống đủ nước, giảm ăn mặn, giảm các chất kích thích trong khẩu phần ăn... đã được nghiên cứu và cho thấy tác dụng phòng và chữa trị hiệu quả chứng bốc hỏa và các rối loạn về tâm sinh lý cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh.

Với sự phát triển của công nghệ y dược, sẽ ngày càng có nhiều hơn các thuốc hoặc liệu pháp điều trị can thiệp vào từng chức năng sinh lý của tế bào, các chỉ số sinh hoá, các nội tiết tố và các cảm thụ quan của chúng. Các phương pháp này rất hấp dẫn người bệnh và bác sĩ bởi chúng có thể làm giảm một số triệu chứng và làm đẹp các chỉ số trên xét nghiệm trong một thời gian, nhưng về lâu dài chúng tiềm ẩn những tác hại và khả năng gây bệnh tật cho người sử dụng. Với nhiều người, khi các biến chứng xảy ra thì đã muộn để họ có thể thay đổi tình thế.

Các bác sĩ lâm sàng thường có thói quen tin tưởng tuyệt đối vào FDA (Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) và ngộ nhận rằng chỉ những dược phẩm hoặc phương pháp chữa bệnh được tổ chức này chấp nhận mới có tác dụng phòng và chữa bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không như vậy, có tới hơn 80% các thủ thuật, liệu pháp, thuốc men, thực phẩm chức năng, thuốc dược thảo được sử dụng trong các bệnh viện cũng như ở cộng đồng một cách hiệu quả và an toàn. Trong khi đó, nhiều thuốc men, chỉ định phẫu thuật... được chấp nhận và sử dụng rộng rãi đã không mang lại hiệu quả và trong một số trường hợp còn làm hại người bệnh. Bài học liên quan đến liệu pháp nội tiết cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh nhắc chúng ta một điều: không phải cứ người Mỹ và châu Âu làm gì chúng ta phải theo vậy, đặc biệt trong lĩnh vực y dược.

 Cảnh giác với liệu pháp nội tiết.

Đầu những năm 1990, liệu pháp nội tiết đã được khuyến khích sử dụng cho phụ nữ như một phương thức để làm họ trẻ, đẹp, sống lâu và phòng được mọi bệnh tật. Nhưng sau đó, các nhà khoa học đã nghiên cứu cho thấy việc này rất nguy hiểm. Theo nghiên cứu được báo cáo tại hội thảo về ung thư vú gần đây nhất ở San Antonio, Mỹ: việc sử dụng hỗn hợp estrogen và progestin trong vòng 2 năm trở lên làm tăng khả năng mắc ung thư vú ở phụ nữ tuổi tiền mãn kinh lên 2 lần.

Bác sĩ Rowan Chlebowski và cộng sự đã theo dõi và nghiên cứu 16.608 phụ nữ ở tuổi ngoài 50, trong số họ, một nhóm được chỉ định dùng prempro (hỗn hợp của estrogen và progestin), nhóm còn lại sử dụng giả dược (placebo). Thử nghiệm này đã phải dừng lại chỉ sau 2 năm, khi các nhà nghiên cứu nhận thấy tỷ lệ bệnh ung thư vú tăng 26% ở nhóm người dùng prempro. Các tác giả đã tiếp tục theo dõi 15.387 phụ nữ sau khi thôi sử dụng liệu pháp nội tiết trong vòng 5,5 năm và kết quả cho thấy sự gia tăng gấp đôi các trường hợp ung thư vú (100%) ở nhóm sử dụng prempro.

Mặc dù trước đó nhiều người đã lên tiếng cảnh báo về việc cần thận trọng khi sử dụng liệu pháp nội tiết, nhưng các thuốc này vẫn được khuyên sử dụng rộng rãi. Cho đến năm 2002, Viện nghiên cứu sức khỏe của Mỹ đã phải dừng trước thời gian thử nghiệm lâm sàng của họ với mục đích chứng minh tác dụng phòng bệnh tim mạch, ung thư, loãng xương, giảm trí nhớ... của liệu pháp nội tiết. Các nhà nghiên cứu hoảng hốt khi thấy thuốc nội tiết đã làm tăng chứ không giảm cho đại bộ phận các bệnh họ định phòng ngừa. Đặc biệt, liệu pháp nội tiết làm tăng mạnh tỷ lệ bệnh ung thư vú, chứng mất trí nhớ do thiểu năng tuần hoàn và các bệnh liên quan đến hệ tim mạch như đột quỵ, nhồi máu cơ tim. Một nghiên cứu sau đó 5 năm đã cho thấy, chỉ trong vòng 2 năm từ 2002 - 2004, khi các bác sĩ không hăng hái kê đơn các thuốc có estrogen cho phụ nữ, số lượng các trường hợp ung thư vú ở phụ nữ Mỹ đã giảm gần 11%.

Các thói quen đều rất khó bỏ, mặc dù bằng chứng về tác hại của liệu pháp nội tiết đã ngày càng rõ ràng và nhiều hơn lợi ích của nó. Một số bác sĩ vẫn tiếp tục khuyên phụ nữ dùng nó để chữa chứng bốc hỏa ở tuổi tiền mãn kinh trong khi đó họ lại không tìm hiểu và ý thức được rằng chính luyện tập thể dục, ăn nhiều thức ăn có đậu nành, dùng một số thảo dược và các chất khoáng như magie, vitamin D3, uống đủ nước, giảm ăn mặn, giảm các chất kích thích trong khẩu phần ăn... đã được nghiên cứu và cho thấy tác dụng phòng và chữa trị hiệu quả chứng bốc hỏa và các rối loạn về tâm sinh lý cho phụ nữ ở tuổi tiền mãn kinh.

Với sự phát triển của công nghệ y dược, sẽ ngày càng có nhiều hơn các thuốc hoặc liệu pháp điều trị can thiệp vào từng chức năng sinh lý của tế bào, các chỉ số sinh hoá, các nội tiết tố và các cảm thụ quan của chúng. Các phương pháp này rất hấp dẫn người bệnh và bác sĩ bởi chúng có thể làm giảm một số triệu chứng và làm đẹp các chỉ số trên xét nghiệm trong một thời gian, nhưng về lâu dài chúng tiềm ẩn những tác hại và khả năng gây bệnh tật cho người sử dụng. Với nhiều người, khi các biến chứng xảy ra thì đã muộn để họ có thể thay đổi tình thế.

Các bác sĩ lâm sàng thường có thói quen tin tưởng tuyệt đối vào FDA (Cơ quan Quản lý dược phẩm và thực phẩm của Mỹ) và ngộ nhận rằng chỉ những dược phẩm hoặc phương pháp chữa bệnh được tổ chức này chấp nhận mới có tác dụng phòng và chữa bệnh. Thực tế thì hoàn toàn không như vậy, có tới hơn 80% các thủ thuật, liệu pháp, thuốc men, thực phẩm chức năng, thuốc dược thảo được sử dụng trong các bệnh viện cũng như ở cộng đồng một cách hiệu quả và an toàn. Trong khi đó, nhiều thuốc men, chỉ định phẫu thuật... được chấp nhận và sử dụng rộng rãi đã không mang lại hiệu quả và trong một số trường hợp còn làm hại người bệnh. Bài học liên quan đến liệu pháp nội tiết cho phụ nữ tuổi tiền mãn kinh nhắc chúng ta một điều: không phải cứ người Mỹ và châu Âu làm gì chúng ta phải theo vậy, đặc biệt trong lĩnh vực y dược.

BS.TS. Hoàng Xuân Ba

Cơ thể thiếu chất gì dễ dẫn đến ung thư?

Posted on:
tags:
Ngoài yếu tố di truyền, đột biến gen và môi trường ra, bệnh ung thư còn có quan hệ mật thiết với thói quen ăn uống hàng ngày. Chúng tôi dựa vào chất dinh dưỡng phân loại, xem xem cơ thể chúng ta nếu thiếu loại chất dinh dưỡng nào sẽ có khả năng dẫn đến ung thư.

Thiếu carotene β có thể gây ung thư phổi

Hiện nay, ung thư phổi vẫn là một loại ung thư có tỉ lệ phát bệnh cao. Ngoài hút thuốc gây ung thư phổi ra, cơ thể nếu thiếu carotene β cũng có thể gây ung thư phổi. Vì vậy, người hút thuốc thời gian dài, bệnh nhân lao phổi và người bị bụi phổi nên ăn nhiều thực phẩm giàu carotene β như mía, cà rốt, dứa, xoài, đu đủ và đậu phụ vv.


Thiếu protein có thể dẫn đến ung thư dạ dày

Nếu chúng ta dung nạp không đủ protein từ thức ăn, đặc biệt là protein ưu chất sẽ có khả năng dẫn đến bệnh ung thư dạ dày. Trước đây, ung thư dạ dày một thời được gọi là “bệnh nhà nghèo”.

Vì vậy, người viêm dạ dày thu co, người bị loét dạ dày, người có chức năng miễn dịch thấp và gia đình có tiền lệ ung thư dạ dày nên thường xuyên ăn nhiều thực phẩm có protein ưu chất, ví dụ như cá, tôm biển, con hàu, đỗ tương, thịt nạc và trứng gà vv.

Ngoài ra, nếu chúng ta ăn nhiều cá ướp muối, thức ăn muối có chứa chất nitrosamine gây ung thư cũng sẽ tăng nguy cơ mắc bệnh ung thư dạ dày. Nếu chúng ta ăn quá mặn cũng có khả năng dẫn đến viêm dạ dày thu co.

Vì vậy, để phòng tránh ung thư dạ dày,  chúng ta nên giảm bớt dung nạp lượng muối đồng thời nên ăn nhiều hoa quả và rau xanh, hạn chế ăn đồ nướng và hun khói.

Thiếu chất xơ có thể gây ung thư ruột kết

Trong kết cấu ăn uống của cuộc sống hiện đại, thực phẩm protein cao, chất béo cao chiếm tỉ lệ ngày càng nhiều, còn chất xơ thì ngày càng ít đi. Thực phẩm protein cao, chất béo cao sau khi vào cơ thể phân giải sẽ sinh ra nhiều chất gây ung thư. Trong tình trạng thiếu chất xơ, những chất gây ung thư này sẽ lưu lại trên màng ruột kết trong thời gian dài, từ đó dẫn đến ung thư ruột kết.

Vì vậy, thường ngày chúng ta nên ăn nhiều thực phẩm chất xơ như yến mạch, các loại đậu, carotene, cam quýt, lúa mạch vv

Thiếu vitamin D có thể gây ung thư quyến sữa

Số liệu điều tra âm sàng đều chứng minh, hàm lượng vitamin D trong cơ thể bệnh nhân ung thư tuyến sữa thường rất thấp.

Chuyên gia nghiên cứu Canada còn phát hiện, so sánh với người ung thư tuyến sữa không thiếu vitamin D, người ung thư tuyến sữa trong cơ thể thiếu vitamin D có tỉ lệ tử vong tương đối cao.

Vì vậy, những người dễ mắc ung thư tuyến sữa như trong gia đình có tiền lệ ung thư tuyến sữa, phụ nữ chưa sinh dục, phụ nữ trung niên và phụ nữ kinh nguyệt đến sớm hoặc tắt kinh muộn nên ăn nhiều cá, thịt bò, gan lợn và lòng đỏ trứng gà vv đồng thời nên thường xuyên sưởi nắng để thúc đẩy cơ thể hợp thành càng nhiều vitamin D.

Theo Dân trí

Virut gây nhiệt miệng có thể chống lại ung thư

Posted on:
tags:
Hiệp hội Ung thư Mỹ đang tiến hành nhiều nghiên cứu về khả năng chống lại bệnh ung thư của liệu pháp virut. Các nhà khoa học điều chỉnh để virut thay vì làm suy yếu hệ miễn dịch sẽ đi trực tiếp vào các khối u rồi phá hủy chúng.

Có hai loại virut được sử dụng trong nghiên cứu. Một loại là virut đã được làm suy yếu để không gây ra nhiễm trùng nhưng vẫn đủ mạnh để xâm nhập vào các khối u. Loại còn lại là gen chứa virut được thêm thuộc tính mới: chống ung thư, kích thích miễn dịch, tấn công mạch máu ung thư. Các loại virut này còn được biết đến với tên gọi cold sore hay herpes simplex (loại virut gây ra chứng rộp môi, lở miệng, nhiệt miệng). Cả hai loại virut đều được đưa trực tiếp vào các khối u đặc, làm cho chúng từ từ bị phá hủy, teo lại rồi biến mất.

Hiện nay, liệu pháp virut vẫn đang được thử nghiệm trên động vật nhưng dựa vào kết quả khả quan nó mang lại, các nhà nghiên cứu hy vọng sẽ nhanh chóng phát triển nó thành một biện pháp chữa bệnh ung thư hiệu quả.


 (Theo LS, 10/2013)
◘ >